Danh mục sản phẩm

Đánh giá xem nhiều

Sử dụng filter trong nhiếp ảnh Phần 1

  16/03/2015

 Sử dụng filter trong nhiếp ảnh

Cẩm nang sử dụng filter trong nhiếp ảnh p1
Như một kính đeo mắt, các loại filter có công dụng điều tiết và điều chỉnh quang học lượng ánh sáng đi vào ống kính, giúp lọc và loại bỏ các các tia sáng không tốt đối với ảnh , tạo ra các hiệu ứng quang học lên ảnh , ngoài ra filter cũng đóng vai trò bảo vệ thấu kính ngoài của ống kính. Filter dùng được cho tất cả các loại máy ảnh từ máy film SLR, Digital SRL đến máy số P&S, kể cả các loại thiết bị chuyên dụng như kính thiên văn, ống nhòm vv.

 Có rất nhiều loại filter, xin được nêu ra một vài filter thông dụng như sau:
1. UV Filter
2. ND Filters, GND Filter, Graduated Filter
3. Polarizers Filter
4. Color Correction Filter 
5. Black & White filter (for monochrome films filter)
6. Infrared filter
7. Close-up Filter ( Close-Up Lens, Macro Filter )
8. Effect filter - Kính lọc hiệu ứng
Ngoài giới thiệu tính năng của filter các loại, trong bài viết còn đề cập tới các vấn đề liên quan đến filter như:
9. Cấu trúc, vật liệu và các phụ kiện cho filter
10. Tip, mẹo và các lưu ý khi sử dụng filter




 

 

 

 

I. UV Filter




UV – ultraviolet ray: Đây là tia cực tím, không thấy được đối với mắt thường, tuy nhiên film hoặc sensor đều ghi nhận. Do tán sắc, tia UV sẽ làm cho ảnh bị ám màu lam ( blue ). Sử dụng filter UV rất cần thiết cho mọi cảnh chụp ban ngày đặc biệt là khi chụp ở vùng núi cao, và cảnh sông biển. Khi gắn filter này, ảnh chụp sẽ giảm được hiện tượng ám màu giúp ảnh sẽ được rỏ hơn, không khí trong ảnh sẽ trong và sạch hơn mà không giảm lượng ánh sáng vào trong thấu kính. Ngoài ra, filter này cũng như được dùng như lớp bảo vệ chống lại sự va đâp hay đọng nước trên bề mặt thấu kính ngoài.

Các loại UV filter khác là:

1. UV / IR cut filter: giúp lọc và ngăn cản các loại ánh sáng là các tia UV – ultraviolet ( tia tử ngoại ) và cả IR – Infrared ( hồng ngoại ) nó sẽ lọc toàn bộ tất cả ánh sáng mà mắt thường không thấy được.( Không nên lẩn lộn giữa filter UV/IR cut và IR Filter )


Marumi UV / IR cut filter

2. UV/ haze Filter : Nó dùng để lọc bỏ những thành phần tia sáng đục do sương, khói, mây mù trong không khí và gia tăng độ bảo hoà của kênh màu vàng. Ví dụ như filter B+W UV/Haze KR = 1.5 ( ~ A=1 ) nó sẽ giảm đi màu xanh thay bằng 29% sắc độ vàng đối với ánh sáng có bước sóng 400nm ( ánh sáng màu lam tía - violet )


B+W 127MM SLIM UV HAZE MRC

Chỉ số KR ( Kelvin Colour Temperature Reduction ) trên filter cho người dùng biết nhiệt độ màu sẽ thay thế bao nhiêu phần trăm. Nếu để ý ta sẽ thấy những filter này có sắc vàng ( yellowish ) hoặc hồng ( pink )

3. UV/Skylight : Ngoài công dụng “block” tia UV, nó còn có chức năng làm dịu lại kênh màu cam ( reddish yellow ), do đó kênh màu xanh ( blue ) trong vùng màu đặc và bóng đổ sẽ nổi bật hơn. Nó cũng có chức năng tương tự như haze nhưng ít hơn là lọc bỏ phần đục của không khí.


B+W 105MM UV SLIM KR-1.5 (SKYLIGHT)

Trong thời điểm hiện tại, rất nhiều các hãng sản xuất filter nổi tiếng như Marumi, B+W, Hama … có sản xuất các loại filter UV đi cùng chức năng với các loại filter khác như Sky light, IR Cut ( Infra Red light Cut ), Haze … khi lựa chọn nên để ý đây là UV filter loại gì mà dùng đúng mục đích. Ví dụ Filter B+W Sky Light KR 1.5 sẽ mặc định có luôn chức năng chống lại tia UV hoặc Marumi UV/IR cut sẽ mặc định có chức năng lọc bỏ tia Infra Red và nó cũng có chức năng lọc bỏ tia UV. Và cũng nên lắc nhẹ trước ánh sáng mặt trời để xem nó được “ coated “ màu gì.



Theo hãng B+W “ Good lenses are far more expensive than UV filters, therefore it makes good sense to attach a filter to protect the lens’ sensi¬tive front element” ( filter bao giời cũng kinh tế hơn so với một ống kính loại tốt, hãy luôn gắn phía filter UV phía trước để bảo vệ thấu ngoài ! )



II. ND Filter ( Neutral Density Filter )




Những máy ảnh hiện đại ngày nay, đều cho phép người chụp đẩy tốc độ chụp lên rất cao hoặc giảm tốc độ chụp xuống rất thấp để bù trừ với lượng ánh sáng giới hạn bởi khẩu độ cho ra tác phẩm hết sức thú vị. Khẩu độ lớn sẽ tạo ra DOF mỏng cô lập chủ thể ra khỏi tiền cảnh và hậu cảnh, tuy nhiên do ảnh hưởng của một số điều kiện ánh sáng đôi khi ta không thể tuỳ chỉnh được độ mở mong muốn để tạo ra ảnh trường DOF theo ý, trong trường hợp này thì filter ND là một giải pháp. Hoặc như trong trường hợp cần giảm đi thời gian của tốc độ mà vẫn giữ nguyên khẩu độ để tạo độ nhòe trong các tình huống chụp ảnh muốn tạo ra độ nhoè do chuyển động thì sử dụng Filter ND là một giải pháp ưu việt.
ND Filter được “coated” (phủ hay tráng) một lớp phim màu xám trung tính ( Neutral ) tuỳ theo mức độ đậm đặc ( Density ) mà nó làm thay đổi sắc tố đối với tất cả các loại màu với tất cả các bước sóng ánh sáng của sắc màu đó. Nói đơn giản hơn, tất cả màu trong khung ảnh đã được hòa trộn với thang độ màu xám để ra màu mới và độ bảo hoà màu chung ( master ) cũng thay đổi.



Hiệu quả ảnh khi sử dụng ND Filter trong tình huống chụp cảnh động

ND filter còn có tên gọi khác là Light Volume Reduction do đó ta có thể thấy tác dụng chính của ND filter là cản quang dẫn tới gia tăng thời lượng phơi sáng mà vẫn giữ nguyên độ mở của ống kính. Để biết được khẩu thay đổi như thế nào , trên các filter này có những số chỉ dẩn . thí dụ như x2 , x4 ,x8 . Các số này được tính bằng X=2 luỹ thừa f-stops , X được ghi trên filter ví dụ B+W ND Filter 8x sẽ làm bước nhảy f-stops xuống 3 stops ( 2 luỹ thừa 3 = 8 ) hoặc B+W ND Filter 64x sẽ làm bước nhảy f-stops xuống 6 stops ( 2 luỹ thừa 6 = 64 ): ta có bảng sau:





GND Filter (Graduated Neutral Density Filter )


B+W Graduated Filter Gray 501

Nó là loại ND filter nhưng chuyển ( Graduated ) độ đậm của màu xám ( Neutral Density ). Có rất nhiều kiểu chuyển, có thể có loại chuyển từ tâm filter ra bốn góc, cũng có loại chuyển từ 4 góc filter về tâm nhưng nhiều nhất vẫn là loại chuyển 50% nghĩa là chuyển một nửa trên - Half Graduated Neutral Density Filter. 


Marumi Center ND II chuyển màu từ tâm ra ngoài





Trong bối cảnh mà độ chênh lệc giữa vùng này và vùng kia quá cách biệt, ví dụ chụp cảnh mà bầu trời quá sáng trong lúc một nữa kia lại nằm trong vùng bóng râm, sử dụng filter này tỏ ra hết sức hiệu quả. Có thể nó, filter này không thể thiếu được trong hành trang của những NAG đam mê ảnh phong cảnh.

Graduated Filter:






Ngoài GND có công dụng chuyển độ xám, các hãng sx filter còn đưa ra rất nhiều loại Graduated filter cản ánh sáng của màu MIRED ( xem phần Color Correction Filter bên dưới ) và làm gia tăng độ bảo hoà màu ( saturation enhacing ) của các màu ghi trên filter ( màu đầu lọc thuốc lá tobacco, màu hoàng hôn sunset, màu trời skylight …vv). Nó thật sự hữu ích để sáng tác ảnh với tone màu và độ chuyển màu hết sức thú vị.





ND, GND và Graduated filter đều có có công dụng cản quang và làm thay đổi độ bảo hoà màu. Các filter này thường được nhóm chung nhau là Light Volume Reduction

Thật là khó, nếu chụp ảnh một chủ thể đứng trước hoặc sau bề mặt phản chiếu mà không dùng Polarizers Filter, vì ống kính sẽ ghi nhận toàn bộ ánh sáng kể cả ánh sáng của sự phản chiếu không mong muốn.

III. Polarizers Filter:




Ánh sáng di chuyển theo dạng sóng, tất cả các vật thể đều phản xạ ánh sáng và ống kính ghi nhận tất cả các loại sóng ánh sáng phản xạ đó . Trong quá trình phản xạ, các sóng ánh sáng phản chiếu này có thể cộng hưởng hoặc gây nhiễu động sóng ánh sáng kia gây ra loá sáng và bóng ảnh. Bằng cách xác lập trục truyền ( xoay filter ), Polarizers Filter sẽ cản những tia sáng do phản chiếu (unpolarized ) bằng cách đẩy ra ngoài , chỉ cho phép những tia sáng có phương vuông góc ( perpendicular ) tia sáng phản chiếu đi vào ống kính (P-Polarized ), hạn chế các sóng ánh sáng phản chiếu lung tung "free to move”. Do đó sóng ánh sáng từ các vật thể không phản chiếu ( non-metallic surface) phân cực đi vào ống kính đã được lọc bỏ đi sự nhiễu động do sự phản chiếu từ vật thể khác. Ví dụ như chủ thể đang ở vùng mặt nước ( hoặc trước mặt kính ) Polarizers Filter sẽ loại bỏ sự ám ( veil ) bên ngoài tạo cho ánh sáng truyền từ chủ thể vào ống kính một cách trung thực, màu sắc và độ nét được bảo toàn phần nào. 





Thật là khó, nếu chụp ảnh một chủ thể đứng trước hoặc sau bề mặt phản chiếu mà không dùng Polarizers Filter, vì ống kính sẽ ghi nhận toàn bộ ánh sáng kể cả ánh sáng của sự phản chiếu không mong muốn. Rất hiệu quả nếu ta dùng filter này để chụp ảnh các vật thể trước gương hoặc mặt nước kể cả dưới bầu trời sáng chói, Polarizer Filter sẽ loại bỏ những ánh sáng do phản xạ mà có, giữ lại ánh sáng từ các vật thể không phản chiếu ( non-metallic surface) 





Linear Polarizers Filter:



Đây là loại filter có lớp film với những lưới dây song song – wire grid ( B+W ) nó sẽ cản và phản chiếu ngược ra ngoài những tia sáng lộn xộn – ramdomly polarized / unpolarized, nếu đặt nằm ngang nó sẽ cho phép chỉ những tia sáng phân cực đứng ( vertically polarized beam light ) đi qua, tương tự với đặt theo phương đứng, hoặc nếu đặt theo phương 45 độ thì nó chỉ cho những tia phân cực 135 độ đi qua.





Filter này có công dụng chính là cản những tia sáng phản xạ, tăng độ tương phản, tăng độ bảo hoà màu. Bởi vì filter này cản sáng theo kiểu “ cut off “ nên sẽ gây nên hiện tượng đo sáng và lấy nét sai trên máy ảnh điện tử . Do đó , filter này không thích hợp khi bạn sử dụng các máy ảnh điện tử với chế độ lấy nét tự động ( AF ). Nhiều hãng chế tạo filter khuyến cáo không nên sử dụng Linear Polarizer Filter trong các chế độ lấy nét tự động AF và đo sáng TTL Meter ( nên chuyển về chế độ lấy nét tay MF )

Circular Polarizer Filter - CPL:





Filter này là loại cải tiến từ Linear Polarizer, nó bao gồm 2 “element”, thành phần thứ nhất phía trước là Linear Polarizers Filter, thành phần thứ 2 phía sau được gọi là Quarter Wave Plate ( Quarter là góc một phần tư, cũng có hãng gọi là half-wave Plate ), các tia Polarizer đi qua thành phần thứ nhất và di chuyển qua thành phần thứ 2 theo đường xoắn ốc ngược chiều kim đồng hồ vào phía trong. Hiện tại, các hãng sx Filter lớn và nổi tiếng không còn dùng lớp plastic cho Linear Polarizer Filter mà thay vào đó là lớp thuỷ tinh mỏng gọi là glass-to-air hay foil-to air surface do đó theo khuyến cáo không được để bề mặt của CPL nóng hơn 70 đô C ( hoặc 158 độ F ), do vậy những đèn flash gắn lên phía trước ống kính ( flash dành chụp macro ) không nên sử dụng đi cùng với CPL.



Sử dụng CPL rất hiệu quả khi chụp ảnh mà chủ đề phía trước mặt nước, kính, kim loại gây phản chiếu, ngoài ra nó còn giúp cho bức ảnh trong hơn, màu sắc đẹp hơn. Đa phần các sản phẩm CPL đều có màu xám trung tính ( Neutral ) tuy nhiên vẫn còn có nhiều loại khác, do vậy khi lựa chọn CPL nên chú ý thêm ký hiệu ghi trên filter. Ví dụ:






* B+W Linear & Circular Polarizers KR 1.5, đây là CPL cải thiện chi tiết vùng màu ấm và cho ra tone màu ấm. ( Tương tự KR 3, nó sẽ cho ra tone màu ấm mạnh hơn )

* B+W CPL Pro Redhancer : đây là CPL cải thiện chi tiết vùng màu nóng và cho ra tone màu nóng. Filter này rất thích hợp cho ảnh phong cảnh mùa thu ở vùng bắc bán bán cầu ( Châu Âu – Bắc Mỹ ), những rừng cây là phong sẽ đẹp hơn, màu “golden” sẽ tươi hơn … vv



Xin lưu ý đối với CPL là filter này sẽ có 2 vành, một vành sẽ khoá chặt vào ống kính như các loại filter bình thường khác, và vành còn lại để chỉnh hướng cản tia phản xạ. Và khi lưa chọn, nếu đang sử dụng các máy ảnh phim điện tử hoặc máy số digital nên coi kỹ ký hiệu trên vỏ hợp nếu đây là loại có khả năng dùng được với các loại máy kể trên ( filter B+W có ghi chữ Digital sẽ dùng được cho máy số ) .

 

 

 

IV. Color Correction Filter






Màu sắc thay đổi chuyển biến tuỳ vào nguồn sáng. Những nguồn sáng nhân tạo khác nhau, đèn như đèn tungsten, đèn halogen, nến … vv sẽ gây ra những ám màu khác nhau, “ nhiệt độ màu “ trong ngày ngày cũng thay đổi tuỳ theo thời điểm, bình minh, giữa trưa, chiều và hoàng hôn. Color Correction Filter có tác dụng bù trừ màu và tạo ra sự cân bằng về màu sắc ( Color Balancing ). Filter loại này được sản xuất đầu tiên bởi hảng Tiffen, các số hiệu màu được lấy theo số hiệu màu Mired – Micro Reciprocal Degrees trên phim do các kỹ sư của hãng Kodak xuất bản năm 1912, phim kiểu “daylight” được dùng để chụp cho bao cảnh có nhiệt độ màu 5600K, phim Tungsten được sử dụng dưới nguồn sáng khoảng 3200K. Tuy nhiên, nhiệt độ màu thay đổi rất thường xuyên do vậy các filter này rất hữu ích khi sử dụng với các loại phim nói trên để tạo ra ảnh có sắc màu tự nhiên.





Chụp ảnh với nguồn sáng đèn trong nhà ( household Bulbs ) và sử dụng daylight film thường cho ảnh ám đỏ. Dùng các loại filter trong trường hợp này có thể điều chỉnh và đưa nhiệt độ màu lên 3200K ( đ/v filter 80A ) tới 3400K ( đ/v filter 80B ) …vv 





Chụp ảnh trong ngày nhiều mây, trong bóng râm có thể gây ra ảnh ám xanh hoặc bị thiếu vàng, sử dụng các loại filter 81A / B có thể điều chỉnh và đưa nhiệt độ màu lên đến 6000k …








Chụp ảnh dưới đèn Flouressecent gây ra ảnh ám màu lục (green). Sử dụng các loại filter Marumi F-DL/F-TB, F-WL hoặc B+W 499 F-Day sẽ điều chỉnh và khử ám màu trong trường hợp này.

V. Black & White filter ( for monochrome films filter )






Phim đen trắng ngay cả ở phim panchromatical sẽ không tái tạo lại đúng tỉ lệ độ tương phản ( constract ) mà mắt người có thể nhận thức được. Black & White filter là loại filter hỗ trợ cho việc sáng tạo nguồn sáng ( artificial light ) theo đúng chủ ý của người chụp nhằm gia tăng sự tương phản cách biệt giữa thang màu xám trên kênh màu chủ đạo của chủ thể và bối cảnh. Ví dụ như ở thể loại phong cảnh đen trắng, khi người chụp muốn giảm đi độ tương phản ở kênh màu lam ( blue ) của mây trời và làm cho kênh màu lam tối hơn nhưng lại muốn gia tăng độ tương phản ở kênh màu đỏ và làm cho kênh màu đỏ sáng hơn thì Black & White filter là một giải pháp. Và trong thể loại ảnh chân dung đen trắng cũng vậy, có thể dùng Black & White filter để gia tăng tương phản và làm sáng hơn tone màu vàng của da người nhưng sẽ làm tối và giảm độ tương phản của kên màu lục ( green ) để cô lập nhân vật ra khỏi hậu cảnh … vv



 

 

VI. Infrared Filter




Mắt người chỉ có thể thấy được những ánh sáng có bước sóng dưới 750nm, và đây cũng là ngưỡng thấp nhất của loại ánh sáng gọi là ánh sáng hồng ngoại - Infared light ( IR ). Dùng filter IR sẽ giúp cản ( block ) những tia sáng mà mắt người thấy được ( visible Light ) và chỉ để lại anh sáng IR vào bên trong. Tuy mắt người không thấy IR nhưng phim và sensor lại rất nhạy với ánh sáng này, dùng filter sẽ tạo ra bức ảnh có tone sai màu, nhoè ảnh và nổi hạt ( flase color, blur, grain ). Sử dụng filter IR sẽ làm cho ảnh rất tối ( underexposure ) do đó khi chụp với IR Filter chí ít phải tăng lên 1 stops ( B+W ). Đa phần IR filter sẽ tạo ra những tone “ Wood Effect “ nó cản bước sóng của màu lục ( green ) tối đa, tạo nên những thành phần lá cây, cỏ ( foliage ) sáng, trắng và nhoè trông giống là ánh sáng thấy được của tuyết. Tuy nhiên có rất nhiều loại IR filter và tuỳ theo từng loại nó sẽ hạn chế ánh sáng thấy được là bao nhiêu. B+W Infrared Filter 092 (≈ 89 B) sẽ cản những ánh sáng có bước sóng nhỏ hơn 650nm và để ánh sáng có bước sóng từ 730nm đến 2000nm đi qua, B+W Infrared Filter 093 (≈ 87 C) chỉ cho 1% ánh sáng có bước sóng 800nm và 88% ánh sáng có bước sóng 900nm đi qua, B+W Infrared Filter 099 (≈ ¡6) nó được coat một lớp màu cam sẽ khử toàn bộ những bước sóng nhỏ hơn 520nm ( Blue – Blue,Green ) và tăng cường độ bảo hoà hoà màu cho ánh sáng có bước sóng 600nm – filter này sẽ cản hết màu xanh và làm cho màu chuyển thành cam hay đỏ. Ngoài ra, vẫn còn rất nhiều loại khác như IR filter Schott glass types OG 590, RG 610, RG 630, RG 645, RG 665, RG 715, RG 780 hoặc RG 9.



VII. Effect filter - Kính lọc hiệu ứng






Kính lọc này như một công cụ dùng như một thứ đồ chơi để nghịch với ánh sáng, các loại filter này sẽ thay đổi đường đi của ánh sáng để tạo ra một loại ánh sáng tự nguyện theo đúng chủ đích của tác giả. Các loại filter này rất đa dạng như soft effect filter, spectra filter, star filter, fog softar filter, multi image prism filter … vv và thường được nhóm lại thành 3 nhóm “đồ chơi” như sau :

Soft Effect Filter ( Softar, Softer Filter )



Soft ở đây sẽ không đồng nghĩa với unsharp, và cũng không liên quan đến DOF. Các loại filter này sẽ phân tán ánh sáng ( scattered light ) làm dịu độ tương phản ánh sáng trên toàn bộ khung ảnh. Filter này đóng vai trò mộ bộ bộ khuyết tán ánh sáng – diffuser, gia tăng độ rộng của ánh sáng khuyếch tán và giảm đi ánh sáng trong vùng sáng và vùng tối của chủ thể ( xem ảnh minh hoạ )



Đa phần, các nhiếp ảnh sử dụng Soft Effect Filter cho các thể loại ảnh thời trang và chân dung nghệ thuật. Nó làm cho bức ảnh có đường nét mền mại, khung cảnh sẽ trở nên lãng mạng. Và cũng nhờ tác dụng làm giảm độ tương phản, khi sử dụng softar da mặt của người mẫu sẽ trở nên láng mịn hơn. Các loại softar filter được đề nghị sựng trong tầm tiêu cự từ 85mm đến 135mm với độ mở f/4.0.





Soft Effect Filter được chia làm 2 loại là Center Spot Filter và Pastels / Diffuser Filter. Center Spot Filter là loại Soft Effect Filter nhưng có lỗ tròn hoặc hình bầu dục ở tâm.








Ngoài ra trong các thể loại ảnh phong cảnh thiên nhiên, sử dụng Soft Effect Filter cũng tạo ra nhiều hiệu ứng đẹp, lãng mạn giống như khung cảnh đang nằm trong lớp sương mù vậy.



Special Filter ( Spectra, Prism Filter )



Các filter này được ghép bởi những prims hoặc những lớp “coating “ trên bề mặt filter tạo ra những “ Action” ấn tượng. Khi chụp với các filter này nên để ý tới các góc xoay của filter, mỗi góc xoay có thể cho ra những “ effect” khá nhau khá thú vị.





Thể loại “action”dành cho Special Filter rất phong phú, có thể kể đến như:

Star filter: ánh sáng loé ( glare ) trong vùng ảnh sau khi đi qua star filter sẽ tia sáng, có rất nhiều loại star filter như sao 4,6 hoặc 8 cánh sao hoặc ở dạng cầu vòng, hào quang, halos …vv













Multi-image effect filter: tạo ra nhiều ảo ảnh xung quanh ảnh thật. Có thể có loại 5,7,13 hoặc 25 ảnh ảo xung ảnh thật.





Optical effect: là các loại filter tạo ra nhiều vệt sáng như vật thể đang chuyển động, có thể có loại filter gây ra chuyển động chậm hay nhanh.









Color Effect Filter 



Các filter này được “coat” nhiều lớp film màu hoặc nhiều Prism màu tạo ra những sự chuyển biến đường nét, cung bậc màu sắc hết sức kỳ thú.



VIII. Close-up Filter ( Close-Up Lens, Macro Filter )







Độ “ cận thị - minimun focus distance“ là khoảng cách ngắn nhất từ lens đến chủ thể, không thể lấy nét sắc xảo nếu đặt ống kính ngắn hơn minimun focus distance. Vi dụ như AF-S VR Micro-NIKKOR 105mm f/2.8G IF-ED có minimun focus distance là 1 foot ( 0.314m ) không thể lấy nét, khi chủ thể ở gần lens hơn khoảng cách này. Hoặc giả dụ như trong các tình huống chụp “ macro “ côn trùng khi dí ống kính lại gần sát quá côn trùng có thể làm cho chúng hoảng sợ ! mà nếu không dí sát thì độ phóng đại không thoả được ý ngýời chụp. Close-up Filter là một giải pháp trong thể loại ảnh này, nó sẽ gia tăng độ zoom lại gần hơn đối với chủ thể nhờ đó độ phóng đại chủ thể sẽ gia tăng.

Scale ratio or distance ?

Có nhiều loại filter độc lập với khoảng cách phóng đại ( Distance magnification-value / Macro ranges ) như Marumi Close-Up +1 ~ +4, B+W Close-Up NL1 ~ NL5 … vv, các loại filter này sẽ phóng đại ảnh trong tất cả các khoảng zoom/focal lens distance, giá trị phóng đại ngoài độ “ diopter “ của filter thì giá trị của độ phóng đại được cộng thêm nhờ zoom gần hay zoom xa. Tuy nhiên các có một số close-up filter có công dụng rút ngắn lại khoảng cách như Marumi Mcro +10, B+W Macro +10 khoảng cách rút ngắn là 100mm, hoặc Canon 500D Close-Up lens là 500mm các filter này đóng vai trò như một secondary lens hỗ trợ cho ống kính đưa vật thể tới gần hơn (Canon 500D Close-Up lens được recommend cho lens 70-300mm để thu hẹp minimun focus distance )




Marumi wide 0.5x 58mm

Tại sao có lúc gọi là Close up filter có lúc lại gọi là close up lens ( macro lens ) ? có một số loại filter trong số close-up filter này có nhiều hơn 2 elements nên có một số hãng gọi các filter này là lens (ống kính )

Wide Converter ???




Marumi wide 0.5x 58mm

Nếu như có sự chuyển chủ thể lại gần lens ( Tele Converter ) với magnification > +1, vậy có filter nào đưa đối tượng ra xa không (magnification < +1 ) ? hoặc nói cách khác là mở rộng góc nhìn không ? Có chứ ! đó chính là wide-up filter hoặc Wide converter lens, độ magnification của các lens này từ + 0.3 đến +0.7, khi gắn các lens này vào ống kính nó sẽ chia ( nhân nghịch đảo ) focal lens, ví dụ như lens có focal lens là 24mm khi gắn wide-up 0.5 nó sẽ trở thành lens có focal lens là 12mm


B+W ultra fisheye
Tác giả bài viết: phantayho dịch
Nguồn tin: B+W Filters Handbook , Cokin Creative system, Marumi Digital Pro General Filters và wikipedia
 

Bình luận

Tin tức mới